Tin nổi bật

Một số vấn đề khi quyết định hình phạt của Tòa án

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Một số vấn đề khi quyết định hình phạt của Tòa án

Một số vấn đề khi quyết định hình phạt của Tòa án

  Thực tiễn áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự gần 10 năm qua cho thấy, nói chung các Toà án đã áp dụng đúng Điều 47 Bộ luật hình sự và các hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, khắc phục được tình trạng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt một cách tuỳ tiện. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cũng nẩy sinh một số vấn đề vướng mắc; một số Thẩm phán hiểu không đầy đủ các quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự và sự liên quan giữa Điều 47 với các điều luật khác quy định trong Bộ luật hình sự như: áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội; áp dụng hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, nên khi gặp các trường hợp này, các Thẩm phán đã lúng túng không biết áp dụng như thế nào. Một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập đến việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự với các quan điểm khác nhau. Để góp phần vào việc áp dụng thống nhất pháp luật mà cụ thể là việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề sau:

  Theo Bộ luật hình sự năm 1985 quy định trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất (khoản 3 Điều 38). Tuy nhiên, nội dung của khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: "khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn", mà chưa quy định cụ thể, rõ ràng như Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, nên thực tiễn xét xử, nhiều Toà án áp dụng khoản 3 Điều 38 không đúng với tinh thần của nhà làm luật; có nhiều trường hợp không nêu được tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn áp dụng khoản 3 Điều 38; có trường hợp Toà án chỉ nhận định một cách chung chung, rồi áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt người bị kết án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thậm chí có trường hợp điều luật có 4 khung hình phạt nhưng Toà án đã chuyển từ khung hình phạt nặng nhất có mức hình phạt chung thân hoặc tử hình (khoản 4) xuống khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật có mức hình phạt từ 1 năm đến 3 năm (khoản 1). Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật hình sự năm 1999 dành riêng một điều (Điều 47) quy định trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, đồng thời cũng quy định những điều kiện khi quyết định hình phạt hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, những điều kiện đó là: 

- Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Khung hình phạt mà điều luật đã quy định là khung hình phạt mà Toà án áp dụng đối với bị cáo, chứ không phải là khung hình phạt bất kỳ.

  Ví dụ: Phạm Hồng S bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. Nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ giá trị tài sản đã trộm cắp cho người bị hại; thành khẩn khai báo; tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện những đồng phạm khác. Như vậy, bị cáo S có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p và q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Toà án đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt Phạm Hồng S năm năm tù là mức hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật (từ hai năm đến bảy năm).

  Điều luật quy định “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46”. Đây là quy định “cứng” buộc Toà án phải xác định người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự và được Hội đồng xét xử xác định cụ thể và ghi rõ trong bản án thì mới được áp dụng Điều 47. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ từ điểm a đến điểm s, nhưng không phải mỗi điểm chỉ quy định một tình tiết giảm nhẹ mà có điểm quy định hai, ba hoặc bốn tình tiết giảm nhẹ. Ví dụ: điểm s khoản 1 Điều 46 quy định 4 tình tiết giảm nhẹ, đó là: người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong học tập và người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác. Do đó, khi xác định tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp một điểm của khoản 1 Điều 46 quy định nhiều tình tiết giảm nhẹ thì phải nêu rõ bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nào chứ không nếu chung chung như điều luật liệt kê; nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định trong cùng một điểm thì cũng phải nêu rõ trong bản án.

  Ví dụ: bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, đó là: “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất (đã được tặng Huân chương lao động hạng ba) và “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu” (đã được tặng Huân chương chiến công hạng ba).

  Thực tiễn xét xử còn có nhiều trường hợp, các Toà án buộc phải “xé rào” áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khi bị cáo không có từ 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, thậm chí áp dụng mức hình phạt dưới cả mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Tình trạng “xé rào” này không chỉ có Toà án mà đối với cả Kiểm sát viên tham gia phiên toà, trong lời luận tội cũng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt rất thấp và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tình trạng “xé rào” này lại phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, vai trò của bị cáo trong vụ án có đồng phạm và được dư luận đồng tình. Trong các hội nghị sơ kết cũng như tổng kết công tác xét xử hoặc trong các cuộc hội thảo khoa học về việc sử dụng Bộ luật hình sự đã có nhiều đại biểu cho rằng, quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự là quá chặt chẽ, không phù hợp với một số trường hợp và đề nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng: “khi có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng thì Toà án có thể áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự” chứ không nhất thiết phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Chúng tôi cũng chia sẻ với ý kiến này, nhưng vì điều luật đã quy định nên không thể hướng dẫn được mà phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nếu sửa đổi, bổ sung thì chúng tôi lại đề nghị bổ sung thêm một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng vào khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và giữ nguyên quy định “cứng” tại Điều 47 Bộ luật hình sự.

  Mặc dù không có quy định hoặc hướng dẫn nào khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phải lấy tình tiết giảm nhẹ “trừ đi” tình tiết tăng nặng, nếu còn 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên mới được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, nghiên cứu căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự thì “khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cũng là việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội nên không thể không căn cứ vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, theo chúng tôi, nếu người phạm tội có cả tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ thì lấy số lượng tình tiết giảm nhẹ trừ đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên thì hãy nghĩ đến việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quan điểm này cũng phù hợp với quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự là chỉ “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn” chứ không nhất thiết (bắt buộc) phải quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

- Hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định phải là hình phạt nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

  Ví dụ: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp đối với Phạm Hồng S nêu ở trên, hình phạt năm năm tù là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự, nhưng là hình phạt nằm trong khoản 2 Điều 137 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt tại khoản 3 Điều 137 Bộ luật hình sự.

- Nếu khung hình phạt mà Toà án áp dụng đối với bị cáo là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

  Ví dụ: Lê Thị Tuyết N bị kết án về tội "chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý" thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù và là khung hình phạt nhẹ nhất của Điều 198 Bộ luật hình sự, nhưng sau khi phạm tội N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; N là phụ nữ có thai; là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, nên Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt N một năm tù là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự.

- Nếu điều luật mà Toà án áp dụng đối với bị cáo chỉ có một khung hình phạt, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Ví dụ: Bùi Văn T bị kết án về tội "loạn luân" quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ sáu tháng đến năm năm tù và là điều luật chỉ có một khung hình phạt, nhưng Bùi Văn T là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hành vi của mình do bị thương vào đầu trong chiến đấu ở chiến trường B; Bùi Văn T là thương binh hạng 3/4, trong chiến đấu T được tặng Huân chương chiến công hạng hai, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng hai. Như vậy, Bùi Văn T phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n và điểm s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên Toà án đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt tù đối với Bùi Văn T mà chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt Bùi Văn T một năm cải tạo không giam giữ.

  Phạm vi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự là đối với tất cả các bị cáo không phân biệt bị cáo là người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi) hay bị cáo là người chưa thành niên (từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi); bị cáo thực hiện tội phạm ở giai đoạn nào (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành). Tuy nhiên, khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cần xem xét đến mối liên hệ giữa Điều 47 với các điều luật khác quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự như: quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 74); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52).

Nguồn tham khảo:

Thạc sỹ: Đinh Văn Quế - Tòa án Tối cao.

 Lượt xem: 726 -  25/01/2018