Tin nổi bật

Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong Tố tụng Hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phải đứng trước vành móng ngựa bị can, bị cáo và đại diện gia đình thường rất lúng túng khi phải đối diện và trả lời các câu hỏi của cả hệ thống cơ quan công quyền, Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, cán bộ tòa án.

Để hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo cũng như đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, công minh, đúng pháp luật,

Luật Khôi Việt phân tích cho quý khách hàng hiểu rõ hơn về các quy định của luật tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề này.

Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong Tố tụng Hình sự

Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong Tố tụng Hình sự

 

Bị can trong vụ án hình sự:
 
Theo Điều 49 BLTTHS năm 2003: Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can đối với họ. Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình chỉ điểu tra; Viện kiểm sát đình chỉ vụ án; Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can; hoặc Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Khi một người bị khởi tố vụ án hình sự (khởi tố bị can), họ trở thành đối tượng buộc tội trong vụ án, điều đó không đồng nghĩa với việc xác định họ là người có tội.

Theo quy định tại Điều 9 bộ luật tố tụng hình sự: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép tiến hành những biện pháp tố tụng nhất định đối với họ để xác định sự thật. Bên cạnh các nghĩa vụ, bị can còn được pháp luật quy định cho các quyền tố tụng để họ có thể tự bảo vệ mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình không bị xâm phạm.

Bị cáo trong vụ án hình sự:
 

Theo Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, bị cáo là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa ra vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Cũng như khái niệm bị can, bị cáo là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng được áp dụng đối với người đó. Một người sẽ trở thành bị cáo khi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, quyết định đó có thể đúng nhưng cũng có thể sai. Vì vậy, khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm. Trên thực tế, bị các cũng có thể không phải là chủ thể của tội phạm và ngược lại. Bị cáo cũng không phải là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đó có hiệu lực pháp luật. 

Quyền của bị can
 
Quyền của bị can được quy định trong khoản 2 Điều 49 BLTTHS:

- Được biết mình bị khởi tố về tội gì: Bị can cần phải được biết tội danh họ bị khởi tố. Chỉ khi họ biết tội danh mà mình đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội, thì họ mới có thể đưa ra những chứng cứ, lý lẽ phủ nhận việc buộc tội đó.

- Được giải thích về quyền và nghĩa vụ: Không chỉ đơn thuần được thông báo các quyền và nghĩa vụ, bị can còn được giải thích thêm để có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó.

-  Trình bày lời khai. Bị can có quyền trình bày lời khai về những vấn đề liên quan đến vụ án. Họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi khai báo gian dối. Mặt khác khai báo thành khẩn còn được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra phải tôn trọng quyền trình bày lời khai của bị can, không được dùng những biện pháp trái pháp luật để buộc bị can khai báo.

-  Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Bị can có quyền đưa ra những tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án, đồng thời có quyền yêu cầu giám định, giám định bổ sung, hoặc giám định lại,… Cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra đánh giá, giám định một cách khách quan.

- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này. Bị can có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ, giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét giải quyết đề nghị này, nếu đề nghị này là có căn cứ.

- Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Quyền bào chữa không chỉ là một quyền độc lập, tách rời các quyền khác của bị can mà có thể hiểu là tổng hòa các quyền của bị can. Ngoài việc đưa ra những lý lẽ biện hộ cho mình, bị can có thể thực hiện quyền bào chữa thông qua các quyền khác. Việc quy định quyền bào chữa của bị can nhằm mục đích nhấn mạnh quyền được chống lại việc buộc tội, quyền tự bào vệ của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng.

g) Được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này. Các quyết định này nhằm tạo điệu kiện cho bị can thực hiện tốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình.

h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quyền này giúp bị can bảo về mình tốt hơn, bắt buộc cơ quan, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ pháp luật trong khi tiến hành tố tụng.

Nghĩa vụ của bị can
 

Theo khoản 3 Điều 49, bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Trong trường hợp bị can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can để tiến hành các hoạt động điều tra hoặc các hoạt động tố tụng khác, cơ quan điều tra tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can bằng giấy triệu tập theo đúng thru tục luật định, trong đó phải ghi rõ thời gian địa điểm bị can phải có mặt. Bị can có nghĩa vị phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông gia Ban giám thị trại tạm giam.

Quyền của bị cáo
 
Quyền của bị cáo được quy định trong khoản 2 Điều 50 BLTTHS:

Ngoài những quyền: “Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; Được giải thích về quyền và nghĩa vụ; Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.”giống như với bị can, bị cáo còn có thêm những quyền sau:

- Tham gia phiên toà. Quyền này đảm bảo sự bình đẳng của bị cáo trong phiên tòa với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra những yêu cầu tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Quyền này giúp bị cáo thực hiện quyền bào chữa cho bản thân tốt hơn.

- Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa. Bị cáo có quyền đưa ra những ý kiến, những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác.

- Nói lời sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử đưa ra những quyết định đối với vụ án. Hội đồng xét xử phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án, nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.

- Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án. Kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của Tòa án, yêu cầu được xét xử lại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và các quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, Tòa án phúc thẩm phải xem xét và giải quyết quyền kháng cáo của bị cáo. Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo, luật tố tụng hình sự quy định, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo.

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng. Những quyết định này không thuộc đối tượng kháng cáo như quyết định áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn … Bị cáo cũng có quyền khiếu nại hành vị tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng nếu các hành vi đó là trái pháp luật.

Nghĩa vụ cua bị cáo

Theo khoản 3 Điều 50 BLTTHS, Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trồn thì bị truy nã.

Thực tiễn việc tham gia tố tụng của bị can, bị cáo

- Trong việc thực hiện quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu của bị can, bị cáo. Áp dụng theo BLTTHS thì Viện Kiểm sát và Toà án thu thập được và dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội. Với nội dung này thì chỉ những gì cơ quan tiến hành tố tụng thu thập mới được coi là chứng cứ, còn những gì mà người bào chữa thu thập được, những gì mà bị can, bị cáo tự đưa ra để nhằm gỡ tội cho mình sẽ không được coi là chứng cứ. Điều này có phần trái với các quyền của bị cáo, bị can nhưng đó là quy định của luật tố tụng hình sự.

Cũng là một sai sót khi nhà làm luật chưa quy định về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của bên gỡ tội cũng như không có quy định nào về cơ chế đảm bảo cho bị can, bị cáo thu thập chứng cứ hoặc coi các tài liệu, đồ vật mà họ đưa ra là chứng cứ nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền của họ được rõ ràng và hiệu quả hơn.

Ở một số điểm khác, thực tiễn cho thấy sự yếu kém sự ko minh bạch trong hoạt động xét xử, sự không tôn trọng quyền của bị can có thể dẫn đến việc mớm cung, bức cung và dùng nhục hình. Không ít cán bộ điều tra đã muốn rằng những lời khai của bị can phải phù hợp với chứng cứ mà họ thu thập được mà không phải là những lời khai phản ánh đúng sự thật vụ án. Nếu chứng cứ mà bị can đưa ra mâu thuẫn với những chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được sẽ khiến cho cơ quan điều tra có thể quy kết bị can quanh co, chối tội gây khó khăn kéo dài vụ án đó cũng là những yếu tố mang tính chủ quan.

Nguồn tham khảo:

Thạc sỹ: Đinh Văn Quế - Tòa án Tối cao. 

 Lượt xem: 752 -  25/01/2018